Xưa ít có học trò chán học, vì muốn đi học khó lắm, ít trường lớp, ở nông thôn, đi học là mất một người lao động, dồn gánh nặng lên vai cha mẹ, anh chị em. Mà đi học cũng đòi hỏi những cố gắng, không phải ai cũng theo được. Nhưng nếu có vẻ chán học (chỉ mới tỏ ra có vẻ thôi) sẽ được cha mẹ ủng hộ ngay. Bé thì ở nhà chăn trâu, cắt cỏ, lớn thì cày, bừa, cấy,  hái…Cho nên, những đứa còn đi học thường đều chăm chỉ, ham học. Ham học nên đi học một buổi, lao động một buổi, tối vẫn chong ngọn đèn dầu học bài, làm bài. Những đứa nhà xa trường, buổi sớm, chưa rõ mặt người đã đi bộ tới trường có khi hàng chục cây số, mùa rét, quần áo không đủ,  phải vừa đi vừa chạy cho ấm người,. Buổi trưa, tan học phải khoảng 1, 2 giờ mới về tới nhà. Ăn nhoáng nhoàng bát cơm đã nguội ngắt rồi lại ra đồng. Ở thành phố có đỡ hơn vì đi học gần, chỉ có gia đình khá giả con cái mới được chuyên tâm chuyện học hành. Còn nói chung, đều phải làm việc nhà, phụ giúp cha mẹ kiếm sống. Cùng lớp, cùng trường với tôi hồi phổ thông còn có nhiều bạn ngoài giờ đi học, phải bán kem, bán lạc rang, bán báo,  và làm bao việc khác ….Không ham học sao chịu nổi cảnh ấy!

Ít người chán, chỉ có người sợ. Nhưng thường là sợ Toán, sợ Lý chứ không mấy ai sợ Văn. Giờ Văn, thầy giảng, đọc bao nhiêu là văn thơ, kể biết bao chuyện cổ kim, đông tây, đưa ta đến biết bao điều kỳ thú…, nên thường chỉ có người mê và không mê.

Nhưng dần, có học trò chán môn Văn, môn Sử, và con số đó ngày càng nhiều lên thì phải. Gần đây, lại có người than, nếu không phải là môn bắt buộc phải thi tốt nghiệp thì học sinh cũng sẽ quay lưng với môn Văn còn hơn môn Sử. Cái sự chán Văn này xem ra ngày càng phát triển.

 Có phần do chương trình, sách giáo khoa. Nhưng so với vài chục năm trước đây, sách giáo khoa môn Văn đã tiến bộ lắm (tất nhiên vẫn còn những điều cần bàn thêm). Lúc ấy, có thầy giáo dạy Văn đã phải bỏ nghề vì “mỗi tháng 13 cân gạo mà dạy toàn những thứ văn chẳng ra văn, thơ chẳng ra thơ”. Điều kiện học hành cũng đầy đủ hơn rất nhiều so với trước. Cũng có nguyên nhân do thời thế, tâm lý “mì ăn liền”, thực dụng khiến con người ta ít quan tâm tới văn chương. Nhưng tôi cho cái quan trọng nhất vẫn là ông thầy. vì cái văn chương ngoài đời, học trò có chán đâu!

 Trước đây, nhất là từ sau hòa bình (1954), đã không hiếm các thầy dạy văn thuộc loại “bất đắc dĩ”. Bước vào xây dựng CNXH, người ta chú trọng phát triển số lượng nên các thầy dạy Văn không ít người không có say mê với văn chương. Họ dạy Văn chẳng qua do phân công, coi  đó là nhiệm vụ cách mạng, chứ chẳng có mấy hứng thú. Hồi  mới về một trường, tôi thấy ông tổ trưởng tổ Văn đồng thời là bí thư chi bộ. Dù không phải đảng viên, nhưng tôi rất nể trọng vì chắc phải là người “vừa hồng vừa chuyên”. Mà chẳng phải mình tôi, ai thoạt biết cũng như vậy. Một hôm, thấy tôi chăm chú đọc cuốn sách khi trống giờ, ông ấy bảo:

–         Ông hay đọc sách ghê nhỉ! Mình thì chịu ông ạ. Mấy cái truyện ngắn đăng báo còn đọc được, chứ như mấy cuốn dày cộp thế này thì…ngại lắm!

Tôi ngạc nhiên vô cùng. Sao có điều lạ lùng như thế nhỉ? Tìm hiểu mới biết “ông anh” có học tiểu học thời Pháp, sau đi bộ đội. Hòa bình 1954, để tăng cường cán bộ công nông cho các trường học (nhất là sau cái vụ Nhân văn, Đất mới, …hồi 1956 – 1958) nhiều cán bộ thành phần cốt cán được chọn đi học đại học. Bộ đội thì qua lớp bồi dưỡng văn hóa vài năm, coi như học xong cấp 3 đủ tiêu chuẩn vào đại học. Tất nhiên không dám học Toán Lý Hóa, chỉ học Văn, Sử là những môn có thể dùng quan điểm lập trường bù đắp phần rỗng tuếch trong đầu.

Suốt hơn chục năm dạy cùng, chưa thấy ai được dự giờ xem đồng chí bí thư kiêm tổ trưởng dạy thế nào. Cứ mỗi khi tới dịp thao giảng với dạy tốt tổ trưởng đều cử các thành viên trong tổ “lên đoạn đầu đài”. Đến phần nhận xét, đánh giá, tổ trưởng cũng thường có những lời rất vô thưởng vô phạt, không làm mất lòng ai bao giờ.

Về  một trường khác, cùng tổ với tôi là một bà vốn là cán bộ phụ nữ được cử đi học đại học (nghe đâu cũng thành phần cốt cán trưởng thành trong cải cách ruộng đất). Một lần dự giờ mới phát hiện bà ấy không phát âm được vần “ooc”. Gooc-ki thì cứ đọc Goc-ki. Thấy thế, ông hiệu trưởng góp ý “nếu thế thì cô phải đọc  “Go-rơ-ki””. Tập mãi, cô giáo cũng chỉ đọc được “Go-dơ-ki”. Mà cô giáo lại rất hay nói về nhà văn này. Vì nhà văn cũng xuất thân nghèo khổ, thuở nhỏ phải đi ở. Và cô giáo quyết tâm sẽ noi gương “Go-dơ-ki” học nhiều trường đại học, trong khi mình mới chỉ học được có một trường!” (Ý là nói tới “Những trường đại học của tôi”, bộ ba tự truyện nổi tiếng của nhà văn.) Hóa ra nói thì nói chứ cô giáo cũng chưa đọc, cứ nghĩ “những trường đại học” là trường thật. Mỗi giờ Văn, học trò thường được nghe giảng về công ơn của đảng và chính phủ đã đưa một người cố nông đi ở cho địa chủ trở thành kỹ sư tâm hồn, thành người làm nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý như thế nào, rồi tội ác tầy trời của bọn địa chủ cường hào gian ác ra sao, … chứ ít khi được nghe nói chuyện văn chương. Thi cử khi ấy tương đối nghiêm túc nên Hiệu trưởng không bao giò dám phân công cô giáo dạy lớp cuối cấp. … May vài năm sau, cô giáo  được chuyển về Tỉnh hội phụ nữ.

Học trò phải học  những ông thầy bà cô như thế sao không khỏi chán Văn.

Những năm gần đây, tiếng rằng việc học hành, đào tạo có bài bản hơn nhưng tình hình cũng không khá lên được bao nhiêu. Các thầy “bất đắc dĩ” chắc có phần nhiều thêm (do số lượng các trường phát triển vô tội vạ). Nhiều người thiếu say mê, chẳng hứng thú với văn lại đi dạy Văn. Chẳng qua vì để học Văn, người  ta chỉ cần dự thi các môn thuộc khối C, các môn chủ yếu đòi hỏi thuộc lòng hoặc kỹ xảo mang “phao”. Tôi đã gặp không ít các thầy cô than phiền: chưa bao giờ nhìn thấy cuốn Chiến tranh và hòa bình, Kịch Sêch-xpia, … mặt mũi thế nào! Không hiểu vì sao Nguyên Hồng lại gọi tác phẩm của mình là Bỉ vỏ? Những năm 80 trở về trước, sách vở tương đối hiếm, nhất  là sách của các nhà văn viết trước cách mạng như của Tự lực văn đoàn, Vũ Trọng Phụng, Ngyên Hồng, … đều cực hiếm, không có lòng say mê không thể tim nổi. Không ít các tiết dạy Văn, thầy cô giảng bài, nhưng không hấp dẫn được học trò vì giọng nói tẻ nhạt, đơn điệu, cứ nói được vài câu lại phải quật thước xuống bàn, dùng âm thanh rất phản cảm với văn chương để giữ cho người nghe yên lặng. Tổng kết mỗi tiết dạy, không biết âm thanh từ lời giảng và tiếng va chạm của thước trên mặt bàn cái nào nhiều hơn?

Nghe chừng cũng không lạ chất lượng của các thầy dạy Văn nên từ những năm 90, Bộ Giáo dục rất chú ý xuất bản các “sách giáo viên”, một loại sách hướng dẫn giảng dạy, có tác dụng gợi ý cho các thầy cô. Nhưng những loại sách này vẫn đòi hỏi phải động não, phải có chút say mê nên ít được ưa chuộng. Cùng lúc này, trên thị trường bán đầy các loại sách tham khảo, nghĩa là các bài phục vụ nhu cầu “mì ăn liền”, đầy đủ từ mở bài tới kết luận, có dung lượng vừa đủ cho một bài thi làm trong 180 phút. Đối tượng các tác giả loại sách này nhằm tới là học sinh. Thí sinh thi khối C có thể chép nguyên văn mỗi khi làm bài hoặc photo thành phao cứu sinh  mang theo vào phòng thi nên sách bán chạy như tôm tươi. Thế là các thầy có được một “vũ khí đắc lực” hỗ trợ. Chẳng còn phải động não, phải nghĩ suy cho mệt óc. Tời giờ lên lớp, các thầy chỉ cần chọn một cuốn sách tham khảo, rồi  làm công việc của ông giáo tiểu học đọc chính tả thủng thẳng cho học sinh chép vào vở. Để việc đọc chép đỡ nhàm chán, thỉnh thoảng, tiết học lại được điểm xuyết bằng những lời nhắc nhở: “Anh kia! Không chép à!” hay :”Chị kia! Làm gì thế!”. Một phương pháp mới xuất hiện trong nhà trường xã hội chủ nghĩa: phương pháp đọc chép. Mỗi khi cấp trên kiểm tra, vở học sinh toàn ghi những “lời vàng ý ngọc” này chắc không còn ai chê được thầy nữa!

Những năm 70 trở về trước, giờ nghỉ giữa hai tiết học thường có những cậu chuyện trao đổi về chuyên môn, về nghiệp vụ. Đây là lúc thầy cô có thể học hỏi, bàn bạc với nhau, giúp nhau nâng cao tay nghề. Nhưng khoảng ba chục năm gần đây thì chủ đề của các cuộc bàn bạc thường là đủ mọi chuyện trừ những câu chuyện liên quan tới nghề nghiệp vì  chẳng mấy ai có hứng thú với việc dạy học, cũng  không mấy người còn say mê với văn chương. Vẫn có những buổi họp bàn chuyện chuyên môn của tổ, nhóm, sổ biên bản rất đầy đủ không kém gì “vở sạch chữ đẹp” nhưng phần lớn do cá nhân tổ trưởng “sáng tác”. Không có bất cứ một điều gì kích thích người thầy làm việc. Thế là từng cá nhân tự lo liệu. Mà trong nhà trường cũng như các cơ quan nhà nước, phương châm “mi không động đến ta thì ta cũng không động tới mi” được triệt để tuân thủ. Chỉ “chết” học trò.

Một đời người thầy chẳng ra thầy ấy tạo nên sự chán nản cho ba, bốn mươi lớp học trò nối tiếp nhau.  Rồi những người nối gót lại là thảm họa cho ba, bốn mươi thế hệ kế tiếp. Cứ thế mà tính, cái vòng luẩn quẩn ấy tiếp diễn tới hơn nửa thế kỷ, học sinh không chán Văn mới là việc lạ.

 

Không thể gì thay thế được sự say mê của bản thân người thầy. Có say mê mới ham đọc, ham học. Có hứng thú mới thấy mỗi giờ lên lớp là niềm vui, muốn truyền cảm hứng cho học trò. Có vốn kiến thức văn học không ngừng được bổ sung mới hấp dẫn được người nghe ngoài những điều đã có trong sách giáo khoa mà không cần thầy họ cũng biết.

Thiếu thầy có tâm huyết, có say mê, có trách nhiệm và đủ năng lực vẫn mở trường tràn lan để khoe giáo dục phát triển. Chừng nào chưa thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy, học trò nước ta còn chán Văn, chán Sử.

15 BÌNH LUẬN

  1. Rat chi ly,day la thuc trang cua giao duc Viet nam 40 nam nay roi.Muon co doi moi thuc su phai doi tu goc, lam lai tu dau o. tat cacac mat cua xa hoi.Giao duc chi la tam guong nho phan chieu doi song xa hoi.

  2. Thầy mắc lỗi viết văn nhé: Hồi tôi mới về một trường, thấy ông tổ trưởng tổ Văn đồng thời là bí thư chi bộ. Dù không phải đảng viên, nhưng tôi rất nể trọng vì chắc phải là người “vừa hồng vừa chuyên

  3. Lý do em chán học văn không phải như thầy nêu trong bài. Trước giải phóng miền Nam, em học môn văn bình thường chỉ hơi thích thôi, thời đó chúng em học văn của các nhà văn đúng nghĩa, chẳng hạn NHẤT LINH, KHÁI HƯNG, THẠCH LAM,… Sau năm 75 chuyển sang học văn cách mạng như ( em xin lỗi vì có thể em bị quên tên, nhớ không chính xác): Con trâu, Cái sân gạch, Bất khuất, Chị Út Tịch, Đất ngoại ô…vv. Giống như học chính trị hơn học văn, vì vậy em chán học văn.

  4. Có lẽ chính sự gò bó trong khuôn khổ chính trị đã giết chết tâm hồn của người thầy, thầy lại “truyền” tâm hồn chết của thầy cho trò và cứ thế. Ngày xưa, trong miền Nam học văn rất vui, lớp 9, lớp 10 trong giờ văn, nhiều khi thầy hứng chí đọc thơ tình, rồi bình về tình yêu trong sáng, lãng mạn của tuổi mới lớn, học trò rất thích nghe. Nếu ngoài Bắc cấm Tự Lực Văn Đoàn thì trong Nam lại hoc. Miền Nam ngày xưa, từ tiều học cho hết trung học, không có bất cứ môn học chính trị nào trong chương trình học, chỉ có môn “công dân giáo dục” đạy về bổn phận công dân, cách ăn ở, cư xử, v.v….

  5. bai viet cua thay DDG hay tuyet, dung thuc trang cua nganh gd bay gio.thhay co day van toan doc chep.van mau cu the duoc be y nguyen vao. bai nao cua hs doc cung thay co y tuong tu nhau.rat chan.cac e hs chuyen toan thuong ko thich kieu hoc day

  6. Thầy làm em nhớ thầy cô giáo cũ quá, thầy cô giáo nào cũng nghèo nhưng vào giờ dạy cứ như nhập hồn trong đó, nói mê say, bài học sinh viết chữa kỹ- sửa từng từ trong câu văn để sao cho bài hay hơn- ý thoát hơn, rồi tâm đắc gật gù vì trò mình viết ra được như vậy.
    Cách dạy văn tiếng Việt bây giờ ngay từ bậc tiểu học đã giết chết cảm hứng muốn viết văn học văn của các cháu thầy ạ. Cháu nhà em học song ngữ Pháp Việt có thể hào hứng ngồi viết 1-2 trang ô li về đủ thứ trên đời bằng tiếng Pháp nhưng lại vật vã rên rỉ với bài văn tiếng Việt.

  7. Đúng là trước đây, học trò không chán môn Văn như bây giờ. Mọi nguyên nhân đã nêu đều đúng cả. Nhưng để cứu vãn môn Văn, cũng như môn Sử, có lẽ phải giải quyết những v/đ ở ngoài Văn chăng ? Đấy mới là chữa trị tận gốc.

  8. Có một chuyên za cho rằng văn phải “hay”, phải có yếu tố tưởng tượng lãng mạn, tỉ dụ như bà thì phải tóc bạc như cước, nụ cười móm mém đôn hậu… Và, GV bi giờ đang bắt HS viết văn theo ý của cô, thậm chí học thuộc lòng! Thật đáng sợ…

  9. mấy năm trước, PH em cũng nói thế này: lần đầu tiên con tôi được tự làm văn cô ạ!
    Em rất ngạc nhiên hỏi lại mới biết trước giờ các bạn toàn phải học thuộc lòng bài văn của cô. em ko bao giờ làm thế! cứ suy từ mình mà ra, bản thân em ko thích thì ko thể bắt bọn nhỏ làm. Dạy văn, cho các cháu lập dàn ý, em cứ sơ đồ tư duy mà chiến. Mới đầu các bạn ko thích ( thật ra là ko quen) vì hồi nào giờ ko đc làm vậy. Dần dần phải chấp nhận và tự viết theo dàn ý, và đương nhiên dàn ý ko chi tiết.
    cạnh lớp em có hs phải ra ngoài hành lang đứng ôm một tờ giấy học thuộc lòng, thấy đứng lâu quá mà chưa đc cho vô lớp, em bèn ra hỏi thì hoá ra là tại con chưa thuộc bài văn này. Em lắc đầu ngao ngán thay cho trò.

  10. Con em cũng nói như vậy nè. Đề bài là tả cay yêu thích, con tả cay bò cạp vàng mà con rất thích ở trường mầm non. Hậu quả cô trả về vì “không biết đó là cây gì” và yêu cầu tả cây phượng ở sân trường theo gợi ý của cô và yêu cầu học thuộc lòng. Nản ghê với giáo dục như vậy.

  11. Tác giả viết hay và viết đúng . kính phục. Cô giáo văn trẻ bây giò chưa chác đã đọc kịch của Sechxpia , tr của Ban Zac hay nhiều nhà van khác… buồn

  12. em năm nay lên 12 rồi , 12 năm học được học qua hơn 20 thầy , cô giáo dạy văn nhưng em được rất ít thầy cô yêu nghề dạy , và thầy nào , cô nào cũng khuyên chúng em – những học sinh khối C không nên thi sư phạm đặc biệt là sư phạm văn , các cô không ngần ngại nói rằng ‘ mình không yêu nghề ‘. 11 năm học nhưng em chỉ gặp 1 người – người duy nhất đam mê với nghề dạy văn , ai có ghét cô ấy đến mức nào thì cũng đều thích cô dạy văn vì cô dạy quá hay , dạy văn rất sôi động không khô khan và có lẽ rất khó để gặp được những người như cô ấy . với cách học và cách dạy như bây giờ thì có lẽ văn chương Việt Nam sẽ khó mà phát triển.

  13. Ở Miền Nam học Văn ngoài vă Tự Lức Văn Đoàn cò Truyện Kiều ,
    nguyển công Trứ (Chí Làm Trai :Phù thế giáo một vài câu thanh nghị .Vũ trụ chi gian giai phận sự,Nam nhi đáo thử thị hào hùng.Nguyễn Khuyến,Anatole France(vuờn Luxembourg).
    Văn nghị luẫn:”học như bơi thuyền trên dòng nước ngươc không tiến ắt lùi” Viêc làm ngày hôm nay chó dể ngày mai.”đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mă khó vì lòng người ngại núi e sông”Hích của Đức Trần Hưng Đạo .Dạy Văn và dạy cách sống

  14. Chương trình học Văn và Sử ở miền Nam trước 1975 là nhận xét và phê phàn Thày Ngô văn Phi phê phàn bài của Trần Tế Xương là không biết kính trọng Tuổi GIÀ :phen này ông đi buôn cối ,thiên hạ bao nhiêu đứa giã giầu”
    Thày Đặng Đức Cường (trường Võ Tánh NT) so sánh luật GiaLong theo khuân mẫu luật Nhà Thanh không Nhân Bản bằng Luật Hồng Đức.
    Bài Chí Làm Trai củ Nguyễn Công Trú thế hệ học sinh 1960-65ai cũng nhớ

  15. Người ta hay nói ghép ba môn Văn – Sử – Địa, nhưng thực ra theo thứ tự đúng của nó phải là Địa – Sử – Văn; Địa lý có trước (hình thành lãnh thổ, sông suối, núi non, biển cả, rừng cây, ruộng đồng,…) là môn khoa học nghiên cứu về các vùng đất, địa hình, dân cư và các hiện tượng trên Trái Đất hoặc “nhằm mô tả hay viết về Trái Đất”, các vùng văn minh ví dụ như quốc gia hay thành phố và địa phương; Sau mới đến Lịch Sử con người sống trên mảnh đất mà địa lý đã nghiên cứu, quá trình hình thành phát triển, đấu tranh sinh tồn của con người,…khi đã thuộc về quá khứ được gọi là Lịch Sử; Còn Văn là môn học ghi nhận lại sự giao tiếp giữa người với người, phản ánh từng tiến trình Lịch sử đã xảy ra; Có nghĩa là Muốn biết Văn trước hết phải biết Sử, muốn thông sử thì phải tường địa lý; Vậy nguyên nhân học sinh Học sinh chán văn chắc chắn sẽ là:
    1-Những thầy cô dạy văn trưởng thành từ giai cấp Công nông, bình dân học vụ, bổ túc văn hóa, sau này là chuyên tu, tại chức, từ xa, vừa học vừa làm (tóm lại là đào tạo thiếu căn bản) thì không thể có đủ kiến thức để dạy môn văn;
    2-Những Thầy cô biết về Văn nhưng do tổ trưởng chuyên môn, hiệu trưởng không biết gì hoặc kém hiếu biết về Văn thì họ cũng sẽ vờ đi như mình không biết và không muốn dạy văn, dạy nhưng không tâm huyết theo kiểu bán thời gian để nhận lương;
    3-Luật giáo dục, nghị định, thông tư, Sách giáo khoa, sách giáo viên không thống nhất đá nhau và thường xuyên thay đổi, thay đổi kém đi chứ không thay đổi tiến bộ lên làm cho các thầy chán nản không muốn dạy Văn và trò cũng chán theo không muốn học;
    4- Chương trình dạy và học không phản ánh đúng thực tại cuộc sống hàng ngày và nặng về hư cấu, dối trá…từ lớp dưới đã đưa ra cho trò học những điển tích, cổ tích xa rời thực tế như Truyện Lý Thông-Thạch Sanh, chuyện Tấm Cám, cây tre trăm đốt, Trí khôn của ta đây…nặng về dạy khôn ngoan, mẹo mực, hưởng lợi thành quả lao động của người khác; ít dạy về tài giỏi, phát minh, sản xuất; Ban hành những bài văn mẫu để hướng học sinh trở thành robot văn học làm thui chột khả năng tư duy sáng tác văn học của học sinh, thậm chí dạy thói quen dối trá cho học sinh. Trong văn học thì dạy học sinh dùng nhiều về uyển ngữ để giảm nhẹ tính xấu của các hiện tượng xã hội, dùng quá nhiều tính từ để ca ngợi một sự việc hay một nhân cách rất đỗi bình thường ít dùng động từ và liên từ trong văn học mô tả về lao động và sản xuất;
    5- Lịch sử là môn học nghiên cứu các hoạt động của con người đã thuộc về quá khứ, muốn cho môn này học sinh ham học và nghiên cứu điều đầu tiên là phải đúng với sự thật không bịa đặt thành tích, không tô vẽ chiến công, không nói quá thói hư tật xấu và lỗi lầm, rất không nên lồng chính trị vào môn học này mà phải cư xử công bằng cho mọi thời đại (Ví dụ lịch sử Việt 2000 năm, có 40 tuần cho một năm học và có 12 năm học, nếu mỗi tuần học 1 tiết sử thì tổng thời lượng có 480 tiết học sử, mỗi tiết học 2000/480 = 4 năm lịch sử Việt Nam); Không nên nhầm lịch sử dân tộc, đất nước và lịch sử đảng là một; Văn học rất gần với Lịch sử, lịch sử mà học sinh thích học thì đương nhiên cũng sẽ thích học văn và ngược lại;
    6- Nho giáo dạy: Quân-Sư-Phụ, Nhân Trí Tín Lễ Nghĩa nhưng thực tế xã hội ta truyền tụng câu Nhất Y, Nhì Dược, Tạm được Bách Khoa bỏ qua Sư Phạm hay chuột chạy cùng sào mới và sư phạm, tóm lại ngành này bị xếp hạng bét trong tất cả các ngành của đời sống xã hội; Dạy học thì phải dạy theo chỉ tiêu giỏi, khá, trung bình, yếu, kém của cấp trên giao gần giống như chỉ tiêu KTXH của địa phương; Do quan niệm và thực tế xã hội đối xử như vậy nên lấy đâu ra sự thích dạy của thầy và thích học của học sinh; Cũng vì chỉ tiêu dẫn đến dối trá trong bài kiểm tra, dối trá mua bán trong thi cử, dối trá trong tuyển dụng và đào tạo. Văn học là môn học ghi nhận lại sự giao tiếp dối trá thì người viết văn không muốn ghi và học sinh học văn không muốn học cũng là lẽ đương nghiên;
    7- Học văn theo khuôn mẫu gò bó không kích thích tự do suy nghĩ và sáng tác nên gây chán, nếu vô tình sáng tác sẽ bị điểm kém nên lại càng không muốn học văn và dẫ đến chán văn…

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here