Trang chủ Chuyện Đời BỔ TÚC VĂN HÓA

BỔ TÚC VĂN HÓA

1
628

Từ năm học lớp 6, lớp 7, tôi đã tham gia phong trào Bình dân học vụ. Đến năm 1960, học lớp 8 trường cấp 3 Nguyễn Trãi, tôi được phân công dạy lớp 5 bổ túc văn hóa ở Viện mắt Trung ương phố Bà Triệu bây giờ. Lớp gồm các hộ lý, y tá, học vào buổi tối thứ 2 và tối thứ 5. (Hộ lý, y tá khi ấy chỉ cần học hết tiểu học rồi đi học sơ cấp hai năm. Cũng như y sĩ, người đã có quyền cho đơn thuốc cũng chỉ học hết lớp 7 đi học trung cấp y tế 2 hay 3 năm ). Mỗi tối học một môn, toán hoặc văn. Tôi dạy toán. Vì nhà ở tận Cầu Giấy nên sau khi học buổi chiều ở phố Cửa Bắc, tôi phải đi lang thang, ra ngồi ở vườn hoa chờ đến giờ dạy. Vào lớp dạy vẫn còn quàng khăn đỏ. Đến giờ nghỉ, các cô học viên biết là chưa ăn cơm, bảo nhau đi mua phở và nước mía cho ăn,  uống. Dạy được mấy buổi, chắc thấy như thế tôi quá vất vả nên bố trí người khác dạy. Tôi được giới thiệu về tham gia dạy bổ túc văn hóa ở Láng. Mấy lớp bổ túc văn hóa do chi đoàn thanh niên tổ chức, học ở ngay chùa Láng, cũng vào thứ 2 và thứ 5. Lớp gồm thanh niên địa phương, trong đó có nhiều người trong họ là bề trên của tôi như cô Đính, bác Ngà ở dưới Trung mà tôi không biết. Ai cũng cứ “đồng chí” hết. Về nhà nói chuyện, mẹ tôi mới nói cho biết. Ban đầu nhất định không chịu gọi là cô, là bác. Sau nghĩ thấy thế không được nên nói chung thì gọi là “đồng chí”, còn khi nói chuyện trong giờ nghỉ thì gọi là cô, là bác đúng phép tắc. Ban đầu chỉ dạy toán, đến những năm sau học viên học lý hóa, nhiều khi dạy cả lý hóa. Tôi dạy như thế đến khi học hết lớp 10, đi học đại học mới nghỉ. Việc dạy bổ túc văn hóa như thế khiến cho tôi mạnh dạn hơn, lại trau dồi được kiến thức. Những gì mình đã học nếu có dịp  trình bày cho người khác  sẽ  giúp  mình nhớ lâu hơn. Cho nên, tôi học phổ thông từ năm 1962, nhưng đến năm 1969, 1970, khi dạy ở Quảng Oai, lớp tôi chủ nhiệm có nhiều học sinh kém toán, lý, hóa tôi vẫn có thể hướng dẫn cho họ. Giáo viên Toán và Hóa dạy lớp tôi chủ nhiệm rất phản đối vì cho thế là xâm phạm vào chuyên môn của họ. Tôi bảo: thế học sinh nó hỏi, tôi biết mà không trả lời sao? Còn anh dạy Lý thì bảo: “Thôi,  cậu giúp được tớ thì tốt quá!” Năm 1973, vợ chồng tôi từ Quảng Oai chuyển về dạy ở thị xã Sơn Tây. Khu tập thể nhà trường  không có chỗ ở. Chúng tôi tạm ở nhờ căn bếp của anh Cường ở phố Ngô Quyền. Căn bếp chỉ khoảng chục mét vuông. Vợ sắp sinh con đầu lòng, lại còn đứa em trai  học lớp 7. Thật là bí. Một hôm, anh Chính, Hiệu phó gọi tôi vào bảo: – Hôm qua Thị uỷ mới yêu cầu trường bố trí giáo viên dạy bổ túc văn hoá. Tôi đã trao đổi với cụ Quý (Hiệu trưởng) là cử ông vào dạy Văn. Tôi biết hiện nay ông đã dạy quá nhiều rồi. Nhưng vẫn muốn cử ông vì hai lí do. Ông dạy được, giữ uy tín cho trường và thứ hai là lớp này toàn cán bộ lãnh đạo của thị xã. Bố trí để ông có thể tiếp cận với họ mà xin thuê nhà của Nhà nước.    Đúng là năm ấy tôi đã dạy quá nhiều, phải dạy 4 lớp, lại còn nhiều công việc khác, bình thường chỉ phải dạy 2 hoặc 3 lớp là cùng. Dạy bổ túc lúc này là một hoạt động xã hội, không có thù lao. Nhưng trước lý lẽ xác đáng của anh Chính và biết đây cũng là thiện ý với mình, tôi đồng ý. Lớp có khoảng hơn hai chục người, toàn cán bộ đầu ngành của Thị xã cả. To nhất là ông Bí thư Thị uỷ. Cỡ phó phòng chưa được học lớp này. Trình độ chắc là không ngang nhau, mỗi ông bà một lớp. Nhưng họ cứ gộp cả vào một lớp vì có chết ai đâu. Chỉ học có Văn, Sử, Địa thôi mà! Chứ tổ chức nhiều lớp thì không có người dạy, mà lại buồn, vì lớp vắng quá. Học viên nói chung đều khoảng 40 – 50 tuổi, tôi mới có 30,  nhưng với giáo viên họ rất tôn trọng, luôn gọi là thầy, xưng tôi. Lúc ấy, số giáo viên mất tư cách cũng có nhưng rất ít. Nói chung, giáo viên đều đứng đắn và đặc biệt, không bao giờ để đồng tiền xen vào quan hệ thầy trò nên được mọi người quý trọng thật sự. Ngay từ buổi đầu tiên, trong giờ nghỉ giải lao, các ông ấy đã hỏi tôi về gia cảnh. Tôi cứ thật thà nói tình cảnh của mình. Đến khi tan học, thấy tôi đi bộ, một ông lại có nhã ý đưa tôi về bằng xe đạp. Sau tôi mới biết nghe nói tôi đang ở một căn bếp có 6 m2, ông  Bí thư Thị uỷ bảo ông này theo tôi về xem nói có đúng không. Đến buổi học sau, cũng trong giờ nghỉ, ông Bí thư  bảo ông Cao, Trưởng phòng quản lý nhà đất cũng học lớp ấy : – Này, anh xem có cái nhà nào bố trí cho thầy giáo nhé. Ý kiến ông Bí thư là lệnh Giời! Tôi hy vọng, nhưng chắc cũng còn phải chờ đợi. Ở thị xã Sơn Tây lúc ấy có một số nhà cho thuê. Nhưng đây không phải là nhà do Nhà nước làm ra để cho thuê. Đó là những nhà chủ đã bỏ đi Nam sau năm 1954. Những nhà vô chủ này được nhà nước thu lại, ngoài một số sử dụng cho mục đích chung,  còn lại cho những người có nhu cầu thuê. Số lượng nhà thì không tăng, mà con người thì sinh sôi nẩy nở, nhu cầu rất lớn. Lúc bấy giờ, làm được một cái nhà để ở không phải là chuyện dễ dàng. Đất thì không khó lắm. Nhưng vật liệu thì rất hiếm. Sơn Tây có khá nhiều lò gạch. Nhưng đó là lò gạch của Nhà nước, gạch sản xuất ra là để “xây dựng chủ nghĩa xã hội”, không phải để cho dân làm nhà. Không phải là Nhà nước thì không làm được gạch, vì đất sét thì vô khối, nhưng không có than, than là Nhà nước độc quyền! Quen thuộc lắm chỉ có thể được mua gạch phồng, gạch vỡ, tức là loại phế phẩm. Hôm nay xin mua được một xe (xe cải tiến, mỗi xe nếu chở đầy thì được khoảng 100 viên gạch lành, chứ không phải xe ô tô), tháng sau lại nhờ người xin mua được xe nữa, cứ thế, tích cóp mấy năm trời mới có thể làm được một ngôi nhà bây giờ gọi là “nhà cấp 4”. Thế cho nên thuê nhà cực kỳ khó khăn. Chỉ có một cách là chờ xem có ai đang thuê nhà, làm được nhà mới, họ trả lại. Lúc ấy, ở Sơn Tây chưa có chuyện đem nhà được thuê nhượng cho người khác lấy “tiền hoa hồng”. Có lẽ không phải dân Sơn Tây “dại”, cũng không phải họ giàu quá, không cần tiền nữa. Mà vì đất Sơn Tây hẹp, dân ít, trong thị xã hầu hết biết nhau cả. Nhà nào làm nhà mới ai cũng biết. Cho nên phải chờ. Còn phải làm đơn, xin cơ quan xác nhận hai vợ chồng đều là cán bộ Nhà nước, chưa có nhà ở; rồi xin Công đoàn xác nhận khó khăn, vợ sắp đẻ, …. Có người nộp đơn 2, 3 năm rồi mà vẫn phải ở nhờ. Tôi còn chưa nộp đơn. Vì nói chuyên với cụ Quý, Hiệu trưởng xin xác nhận vào đơn, cụ bảo đừng vội. Cụ Quý là một trong hai người Hiệu trưởng mà tôi kính trọng trong cuộc đời đi dạy học. Không phải vì cụ bằng tuổi Bố tôi, mà vì Cụ thẳng thắn và liêm khiết. Suốt cuộc đời đi dạy học, đến khi về hưu, vẫn ở căn nhà thuê của Nhà nước. Trong nhà ngoài cái xe đạp và bộ đồ trà có cái ấm hình quả phật thủ kỷ niệm thời gian làm việc ở Khu học xá Nam Ninh Trung Quốc, có lẽ chẳng có cái gì đáng tiền. Cụ bà vẫn hàng ngày phải ra chợ Nghệ, bán mấy thứ lặt vặt như quả chanh, quả ớt, mấy củ hành củ tỏi, đủ tiền rau dưa. Cụ bảo tôi: – Mình nộp đơn ngay họ sẽ bảo rằng mình chưa thấy lợi mắt đã sáng lên. Cái anh có quyền có chức là nó dễ khinh người lắm! Rồi Cụ lại nói thêm : – Người ta mà định cho ông thuê thì chẳng cần có đơn ông vẫn được thuê. Còn khi người ta không muốn cho ông thuê thì ông có nộp đến cả trăm cái đơn cũng chẳng ăn thua gì! Cho nên tôi còn chờ. Nhưng thật bất ngờ, chỉ 2, 3 tuần sau, trong một buổi học, ông Cao  hẹn tôi sáng hôm sau đến,  ông ấy đưa đi xem nhà, nếu bằng lòng thuê thì sau đó đến cơ quan ký hợp đồng luôn. Cả đêm hôm ấy không ngủ được. Háo hức, cứ hình dung xem căn nhà nó thế nào. Chỉ mong trời mau sáng. Hôm sau, trên đường đi, ông Cao bảo tôi: – Thầy may là có ý kiến anh Ban (Bí thư Thị ủy) đấy. Nếu không, cái nhà này phải đưa về trường thầy. Nhà trường mới bình xét xem ai được thuê. Thật hú vía! Vì nếu đưa về trường thì làm sao đến lượt tôi được! Tôi mới về trường chưa được 2 tháng, mà trường thì thiếu gì người cần thuê nhà! Thế là chỉ trong 3 hôm, tôi đã dọn đến ở một buồng khoảng 25 m2 trong căn nhà số 2 phố Cửa Tiền (nay là phố Quang Trung). Mà ông Cao còn cứ phân trần mãi là định bố trí cho tôi chỗ ở rộng rãi hơn nhưng chưa tìm được. Buồng này ngay góc phố, nên nó “hình ngũ giác” chứ không được vuông vắn, trông ra bờ hào, rất thoáng đãng, trước mặt có máy nước công cộng, gánh nước thì rất gần, mà buổi tối có thể mang quần áo ra giặt được. Lại gần trường, chỉ cách khoảng 300 m. Khổ là có cái loa phát thanh ngay  trước cửa. “Đường lối chính sách” lắm lúc điên hết cả đầu! Một hôm, gặp bà Hiền, Trưởng phòng văn hóa thông tin, tôi nói về chuyện cái loa. Bà ấy cười bảo: – Thông cảm với thầy lắm, nhưng tôi mà chuyển đi chỗ khác thì người ta kiện ngay. Thầy sợ, nhưng lại có người thích, vả lại, đấy là ngã ba, đông người nghe. Tôi đành cười gượng. Nhưng mấy hôm sau, thấy có người leo lên cột xoay cho cái loa hướng đi chỗ khác.

Thế là nhờ chịu khó dạy Bổ túc văn hóa, trong một thời gian ngắn, tôi đã có nhà ở.

P/S Ảnh đầu bài chụp cháu ngoại trước căn nhà này sau 40 năm (2014)

1 BÌNH LUẬN

  1. Thôi, thế cũng là được chút “lộc” của nghề, ông Giao ạ.Tôi thì được mua cái xe “trâu” Liên Xô và 1 cái quạt cóc ..hihi

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here