content top

CHỮ “KHIÊM”

CHỮ “KHIÊM”

Trong những đức tính tốt đẹp của người tử tế, tôi thích nhất đức Khiêm. Ban đầu, đức Khiêm được coi là một đặc trưng của người quân tử. Sử Ký nói “Quân tử dĩ khiêm thoái vi lễ” (Người quân tử lấy cung kính, nhường nhịn làm lễ). Với tinh thần ấy, Từ điển Hán – Việt của Đào Duy Anh giải nghĩa chữ “Khiêm” là “kính, nhún nhường”; Thiều Chửu giải nghĩa khiêm là “nhún nhường, tự nhún mình, không dám khoe”; Trần Văn Chánh thì cho rằng Khiêm là “Nhũn nhặn, nhún nhường, nhún mình, khiêm tốn”; Nguyễn Quốc Hùng cho Khiêm là “Kính trọng người khác – Nhún nhường, tự cho mình là kém cỏi”.

Đọc Tiếp

“HỮU BẰNG TỰ VIỄN PHƯƠNG LAI…”

“HỮU BẰNG TỰ VIỄN PHƯƠNG LAI…”

     “Hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc lạc hồ” (Khách từ phương xa tới sao mà không vui được!) Hình như đây là một câu của Khổng Tử trong Luận Ngữ . Mình ở một nơi chưa phải “thâm sơn cùng cốc” nhưng cũng là hẻo lánh xa cách chốn phồn hoa. Thỉnh thoảng vẫn may mắn được các bè bạn lui tới thăm viếng, thật là niềm vui khó tả.

Hôm nay, được đón một nhóm bạn đã xa cách 43 năm, họ là những học sinh lớp mình chủ nhiệm đã tốt nghiệp phổ thông năm 1972.

Đọc Tiếp

HỒ GƯƠM

HỒ GƯƠM

  Đã lâu mới có dịp tới đây vào buổi sáng đúng lúc mùa thu về. Trong óc tôi vang lên ca khúc “Chiều Hồ Gươm” của nhạc sĩ, ca sĩ Trần Thụ:

Hồ Gươm hôm nay chiều về thu

Làn nước xanh xanh lặng lờ trôi soi bóng Tháp Rùa

Như đắm chìm trong nắng vàng nghiêng nghiêng hàng dương liễu,

Đọc Tiếp

MỘT NGƯỜI HÀ NỘI

MỘT NGƯỜI HÀ NỘI

MỘT NGƯỜI HÀ NỘI

Nguyễn Khải  

Chúng tôi gọi là cô, cô Hiền, là chị em đôi con dì ruột với mẹ già tôi. Năm 1955, tôi từ kháng chiến trở về một Hà Nội nhỏ hơn trước, vắng hơn trước, còn họ hàng chỉ còn lại có dăm gia đình, vì chồng và con đều đi theo cách mạng. Cô Hiền cũng ở lại, dầu cô chú vẫn sống ở Hà Nội suốt chín năm đánh Pháp, các con lại còn nhỏ, chả có dính líu gì đến chính phủ “ngoài kia” cả.

Đọc Tiếp

NGƯỜI TỬ TẾ

NGƯỜI TỬ TẾ

     Nhiều người, nhất là các bạn trẻ chưa thật rõ thế nào là  “người tử tể”?

Đọc Tiếp

CHÈ THÁI

CHÈ THÁI

    Nước chè (trà, búp cây chè tươi sao khô, thường gọi là “chè (trà) mạn”) là thứ nước uống cao cấp. Trước đây, ta chưa làm được chè mạn. Chè được nhập từ Tàu trong những thùng bằng thiếc (chắc để đỡ công vận chuyển), về Hà Nội mới xan ra đóng vào những lọ sứ màu trắng mang nhãn hiệu Ninh Thái hoặc Chính Thái (hình như nhãn Chính Thái nổi tiếng và phổ biến hơn). Vì thế thường gọi là “chè Tàu”.

Đọc Tiếp

PHIM “BẠCH MAO NỮ”

PHIM “BẠCH MAO NỮ”

      Đây có lẽ là một trong những bộ phim đầu tiên được chiếu ở Việt Bắc trong những năm 1953, 1954 thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Hình như từ lúc này, ngoài kháng chiến mới có chiếu bóng. Mọi thứ chắc được Trung Quốc viện trợ sau chiến thắng Biên giới.

Đọc Tiếp

CHIẾU BÓNG Ở HÀ NỘI

CHIẾU BÓNG Ở HÀ NỘI

      Từ đầu năm 1955, tôi cùng gia đình trở về Hà Nội. Cùng với đọc sách, xem chiếu bóng là phương tiện giải trí chủ yếu lúc ấy. Hà Nội cũng có những rạp hát như Kim Chung, Kim Phụng, Chuông Vàng, Kim Lan, … đều ở khu vực phố cổ, buổi tối hàng ngày thường  có biểu diễn chèo, hoặc cải lương nhưng trẻ con không thích những thể loại này nên chỉ xem phim.

Đọc Tiếp

QUẨY VÀ PHỞ

QUẨY VÀ PHỞ

    “Quẩy” là một món ăn có xuất xứ  từ Trung Quốc. Người ta cho rằng nguồn gốc từ một câu chuyện cổ:

Đọc Tiếp

PHỞ

PHỞ

Đã có nhiều người viết về “phở” trong đó không ít người nổi tiếng. Tôi không dám “chơi trèo”, nhưng cũng xin góp tí chút để nói về món ăn quen thuộc này.

      Bát phở đầu tiên tôi được ăn là ở thị xã Phú Thọ. Lúc ấy đã đình chiến rồi (từ 20 tháng 7 năm 1954), không còn chiến tranh, bom đạn, nhưng thủ đô chưa giải phóng. Để chữa bệnh gan và sốt rét cho tôi, Bố Mẹ đưa tôi và cô em gái mới ba tuổi  về theo cơ quan ở thị xã Phú Thọ. Ở đó có Bệnh viện tỉnh, Bố có người bạn là bác Trần Nam Tiến,  y sĩ làm việc ở đó. Sau khi nằm viện mấy ngày thì được ra viện, chữa ngoại trú. Những ngày hòa bình đầu tiên, lại ở thị xã, khác hẳn với cảnh núi rừng. Không khí rất nhộn nhịp. Buổi tối thỉnh thoảng có chiếu bóng, quanh bãi chiếu rất nhiều hàng quán. Đèn (tất nhiên là đèn dầu), nến, thắp như sao sa, bán đủ các loại  kẹo bánh màu sắc sặc sỡ. Có cả kem ở Hà Nội đưa lên. Lần đầu cầm que kem, thấy nó cứ nghi ngút bốc “khói”, tôi cứ “phù phù” thổi. Đến khi nó rơi mất già nửa mới giật mình. Thì ra nó không nóng như tôi tưởng mà lạnh toát. Tối ấy Bố đưa tôi đi xem chiếu bóng ở sân vận động cạnh dốc Tỉnh. Gọi là sân vận động nhưng thật ra, đó chỉ là một bãi cỏ rộng. Đến khi tan chiếu bóng, Bố đưa tôi vào hàng phở, gọi một bát cho tôi ăn. Mùi vị bát phở thế nào thì quên rồi, chỉ nhớ mỗi chuyện Bố không ăn, chỉ ngồi chờ. Lúc ấy chẳng nghĩ gì, nhưng dần lớn lên, nghĩ càng thương Bố. Trước cách mạng đi làm cũng phong lưu lắm. Nhưng từ khi đi kháng chiến, ai cũng bảo thay đổi hẳn, đặc biệt là rất cần kiệm. Sau này, tôi nhiều lần được Bố cho ăn phở, nhưng lần nào hai Bố con cũng cùng ăn. Có lẽ vì thế nên nhớ mãi lần ăn phở này.

Đọc Tiếp
Page 1 of 212
content top