content top

TẢN MẠN VỀ XE BUÝT NHANH (BRT)

TẢN MẠN VỀ XE BUÝT NHANH (BRT)
  1. Từ hơn một năm nay, hàng ngày đi làm nhờ sử dụng xe bus trên tuyến xe B N từ Kim Mã đi Yên Nghĩa, (viết tắt của tuyến Buýt nhanh, BRT), vì thế tôi dễ dàng nhận thấy cái ưu việt của hình thức giao thông công cộng đang có nhiều tranh cãi này. Trước hết, do có tuyến đường dành riêng nên xe chạy được nhanh hơn, thời gian lưu thông có giảm bớt dù chưa nhiều. Tốc độ xe còn hạn chế chủ yếu do vẫn phải dừng ở các ngã tư chờ đèn xanh. Thứ hai, khách đi xe lên xuống dễ dàng hơn nhờ cửa xe rộng, không có sự chênh lệch giữa sàn xe và sàn nhà chờ, đồng thời, việc lên xuống xe hoàn toàn cách biệt với mọi lưu thông trên đường nên an toàn hơn; và đặc biệt, số lượt xe nhiều hơn nên thời gian chờ đợi ít hơn hẳn. Trước đây, 30 phút mới có một chuyến xe nên hàng ngày đi xe bus, tôi thường phải tới sớm hơn giờ làm việc 30 phút. (Không còn cách lựa chọn khác vì nếu chậm hơn sẽ chỉ có thể đi chuyến sau. Đi chuyến này sẽ “khớp” giờ làm việc nhưng chỉ “khớp” trên lý thuyết, chắc sẽ chậm, ít ra là dăm ba phút.) Nhưng với xe BRT, giờ cao điểm, 5 phút có một chuyến, tôi sẽ không cần đi sớm như trước đây. 20 – 30 phút đối với người về hưu chắc ý nghĩa không lớn, nhưng với nhiều người, khoảng thời gian này vào buổi sáng là rất đáng kể. Cho nên, nếu trước mắt, bus nhanh chưa nhanh được về thời gian lưu thông trên đường thì cũng nhanh hơn nhiều xét về thời gian đi xe của hành khách. Chắc cái “nhanh” này cũng có giá trị không nhỏ, theo tôi rất đáng ghi nhận, cần rút kinh nghiệm để tiếp tục phát triển các tuyến xe khác. Nếu các tuyến BRT được phát triển, cùng với việc tổ chức các tuyến kết nối hợp lý, chắc chắn số người đi xe máy sẽ giảm.

Đọc Tiếp

“Y PHỤC XỨNG KỲ ĐỨC”

“Y PHỤC XỨNG KỲ ĐỨC”

Cùng với ăn, mặc là nhu cầu thiết thân , quan hệ tới sự sống còn của con người. Đồng thời, cách ăn và cách mặc cũng bộc lộ rõ nhất từ thói quen, tính cách tới  phẩm cách của mỗi cá nhân. Cho nên, cha ông xưa đã có nhiều câu răn dạy, và mỗi đứa trẻ, ngay từ khi còn nhỏ đã luôn được nhắc nhở, bảo ban “đường ăn ý ở” trong đó rất quan trọng là cách ăn và mặc. Xin nói về chuyện mặc.

Đọc Tiếp

CHUYỆN NÓI NGỌNG

CHUYỆN NÓI NGỌNG

Mấy hôm nay bà con thi nhau “tổng sỉ vả” tật nói ngọng. Hình như chưa bao giờ, kể cả khi cách nay mấy năm, Hà Nội mở chiến dịch thanh toán nạn nói ngọng ở mấy huyện ngoại thành mới sáp nhập, tật nói ngọng được đem ra phân tích, và công kích một cách vừa quyết liệt, vừa hài hước như thế.

Chuyện đã rõ như ban ngày rồi, tôi cũng chẳng muốn nói thêm. Nhưng hôm nay, lại thấy ông Dương Trung Quốc lên tiếng, bênh vực người nói ngọng, coi đó là “chuyện bình thường”, coi đó là “văn hóa vùng miền” thì thật… không thể không nói. Trong bài viết này, tôi không muốn lý giải vì sao ông Quốc nói như thế mà chỉ muốn nói, ông Quốc đã nói sai.

Đọc Tiếp

NGƯỜI TỬ TẾ (3)

NGƯỜI TỬ TẾ (3)

Lẽ ra, bài “Người tử tế” của tôi đã kết thúc ở phần 2 (với nội dung thế nào là người tử tế) sau phần 1 (đạo đức xuống cấp nhưng vẫn còn người tử tế). Nhưng mấy hôm nay, thấy có nhiều việc liên quan, xin viết thêm phần 3 này.

Trước hết, cần phải khẳng định rằng, đã có bao giờ đạo đức xã hội xuống cấp như thế này không (nói theo cách của một bác) trong lịch sử dân tộc, phần lớn các bậc cha mẹ đều mong muốn, thậm chí là mơ ước con cái trở thành những người có danh vọng, chức tước, thành những đại gia, tỷ phủ, … vẫn có không ít người mong cho con ăn học để trở thành người tử tế trong tương lai. Mong ước này rất đáng trân trọng và mục đích của bài viết chính là nhằm khuyến khích và góp một phần nhỏ bé vào việc hình thành những người tử tế cho xã hội.

Đọc Tiếp

THẾ NÀO LÀ “VINH DỰ”?

THẾ NÀO LÀ “VINH DỰ”?

Đọc sách báo trước năm 1945, hình như chẳng bao giờ thấy từ “vinh dự”. Theo cuốn  Đại từ điển tiếng Việt, “vinh dự” nghĩa là “1. biểu hiện cụ thể của sự đánh giá cao, thường là về mặt cống hiến của tập thể xã hội đối với cá nhân nào đó (ví dụ nhận huân chương)” và “2. sự sung sướng về tinh thần khi được nhận vinh dự.” (Nguyễn Như Ý chủ biên – Đại từ điển tiếng Việt – Nhxb thành phố Hồ Chí Minh năm 2011, tr. 1.766 ).

Đọc Tiếp

NGƯỜI TỬ TẾ (2)

NGƯỜI TỬ TẾ  (2)

Với những khái niệm người lịch sự, người văn minh, người hiện đại, … “người tử tế” mang một nội dung không đối lập và cũng không hoàn toàn khác biệt. Đó là quan niệm con người tốt, đáng tôn trọng và noi gương trong xã hội Việt Nam (phong kiến và thực dân) đầu thế kỷ. Tất nhiên trải qua thời gian dài, “người tử tế” xưa đã có những nét cũ kỹ cần thay đổi cho phù hợp với thời đại mới. Trong phạm vi bài viết ngắn này, với mục đích để các bạn trẻ dễ vận dụng, tôi chỉ nói tới những nét tích cực cần duy trì và phát triển. Rất mong các bạn quan tâm, có thêm ý kiến để cách hiểu về “người tử tế” ngày càng hoàn chỉnh.

Đọc Tiếp

ĐI LẠI Ở BĂNG CỐC

ĐI  LẠI Ở BĂNG CỐC

Băng cốc có hơn 8 triệu dân theo thống kê (còn tính cả dân nhập cư nước ngoài như Myanmar, Campuchia, Việt Nam, … và trong nước hình như lên tới 14 triệu) trên diện tích khoảng 1.500 km2 (kể cả vùng phụ cận là hơn 7.500 km2, Hà nội cũ trước năm 2008 là hơn 900 km2, sau khi mở rộng là hơn 3.300 km2). Phục vụ việc đi lại cho một thành phố đông dân và rộng lớn như thế chắc không phải điều đơn giản.

Đọc Tiếp

ĐƯỜNG PHỐ BĂNG CỐC

ĐƯỜNG PHỐ BĂNG CỐC

Khi máy bay hạ độ cao, có thể thấy những con đường dưới mặt đất to, nhỏ đều thẳng tắp. Ở Việt Nam, cũng có những con đường khá thẳng nhưng nhìn từ xa hay trên cao vẫn có cảm giác “xộc xệch”, là vì bản thân con đường có thể thẳng, nhưng các công trình kiến trúc dọc hai bên con đường ấy, nếu cái nhô ra, cái thụt vào thì cảm giác về một cái đẹp hoàn mỹ đã không còn. (Ấy là còn chưa nói tới những con đường uốn lượn được gọi bằng mỹ từ “đường cong mềm mại”).

Đọc Tiếp

LÒNG DÂN

LÒNG DÂN

 

 

Sang Băng côc đúng dịp nhà vua Thái Lan băng hà, tôi được tận mắt chứng kiển tấm lòng của người dân với Đức Vua của mình. Thông cáo chính thức của Chính phủ quy định ngoài Lễ Quốc tang kéo dài một tháng, cả nước treo cờ rủ, không tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí; viên chức để tang (mặc trang phục đen một năm), còn dân chúng được tự do bày tỏ thái độ tùy theo tín ngưỡng.

Đọc Tiếp

CÓ PHẢI “MỘT SỰ NHỊN LÀ CHÍN SỰ LÀNH”?

CÓ PHẢI “MỘT SỰ NHỊN LÀ CHÍN SỰ LÀNH”?

Dạy về đường ăn ý ở, tục ngữ Việt Nam có câu: “Một sự nhịn là chín sự lành”.

Từ thuở còn đi học, cách nay hơn nửa thế kỷ, tôi đã được những người thầy của mình dạy rằng, tục ngữ là một kho kinh nghiệm quý báu về mọi mặt được truyền lại từ xa xưa cần phải trân trọng. Nhưng vì đã hình thành từ lâu đời nên không ít những câu tục ngữ này đã lạc hậu (do kinh nghiệm chủ nghĩa, thiếu khoa học) hoặc lỗi thời (do được đúc kết trong một xã hội nông nghiệp, cuộc sống tiểu nông hạn hẹp trong lũy tre làng). Thực tế ấy đòi hỏi khi áp dụng, kế thừa, cần suy xét với tinh thần “gạn đục khơi trong”. Với những hiểu biết ấy, tôi cho rằng câu tục ngữ vừa nêu đến ngày nay chỉ phù hợp trong mối quan hệ tay đôi, khi cái sự “nhịn” ấy chỉ ảnh hưởng tới quyền lợi của riêng mình. Đúng là nên sẵn sàng “dĩ hòa vi quý”, chịu thiệt thòi, nhẫn nhịn để giữ được mối quan hệ tốt đẹp với anh em, họ mạc hay hàng xóm láng giềng. Nhưng trong quan hệ chung giữa một cộng đồng rộng lớn, cách “nhịn” ấy nhiều khi là sự khôn lỏi theo kiểu “nhắm mắt làm ngơ”, là “đèn nhà ai nhà ấy rạng”, là “khôn sống mống chết”.

Đọc Tiếp
Page 2 of 2112345...1020...Last »
content top